Đừng “đánh úp” dư luận mãi!

%(count) bình luận

Quan điểm Mitonios về việc xây khách sạn bên trong công viên Thống nhất: Tôi không phải là 1 người dân sinh ra tại thủ đô, nhưng tôi cũng đã từng sinh sống ở đây 5 năm và điều quan trọng nhất, tôi sinh ra tại Việt Nam. Tôi nghĩ mình không đủ trình độ để bàn luận về vấn đề này, nhưng tôi vẫn quan tâm và quan sát. Tôi sẽ quan sát xem, liệu có phải nhà nước thể hiện tiếng nói của nhân dân hay những người làm lãnh đạo chính là nhân dân


KTS Ngô Doãn Đức, Viện Trưởng Viện Kiến Trúc (Hội Kiến trúc sư Việt Nam)

Hồi những năm 90, khi mới về nước, tôi đã nghe dư luận râm ran về dự án xây khách sạn SAS trên đất công viên Thống Nhất. Sau đó thấy im im nên cũng không có ý kiến gì thêm.

Sau hơn 15 năm, cơ quan quản lý địa phương lại ngấm ngầm thực hiện, vì quyền lợi của một nhóm người mà đi ngược lại với lợi ích cả cộng đồng.

Đây là cách làm quá coi thường dư luận của những cơ quan liên quan cấp phép, quản lí, mà tệ nhất là cơ quan cấp phép. Bởi nếu vì dân thì sao nhà chuyên môn, cơ quan tham mưu đầy ra đấy mà không chịu hỏi?!

Vụ việc, một lần nữa khiến ta hoài nghi về khả năng, năng lực hay thiện chí của những nhà quản lí, nhà quy hoạch, xây dựng trong việc giữ gìn không gian đô thị Thủ đô.

Chuyện xây dựng Trung tâm thương mại 19/12, chính quyền đã quyết hẳn hoi, rồi phải dừng lại khiến nhà đầu tư cũng khổ, mà nay lại lặp lại, có chịu rút kinh nghiệm đâu! Một ví dụ nữa là toà nhà EVN bên Hồ Gươm, họ cũng đã chuẩn bị dọn sạch để xây rồi đấy chứ. Đến khi bị nói dữ quá mới chịu dừng.

Xa hơn nữa, một câu chuyện khác: Công trình “Hà Nội Vàng” cách nay 6, 7 năm (nay là chỗ toà nhà Bảo Việt, cạnh Hồ Gươm) một thời bị dư luận, những nhà làm kiến trúc, quy hoạch “đánh” tới lui mới chịu thôi.

Khi ấy, công trình 10 tầng này đã đóng móng đến tầng 3 rồi mà vẫn hoàn toàn được chính quyền giấu. Rất may sau đó, toàn bộ bản vẽ đã được lấy ra từ… bên Đức nhờ một cựu sinh viên kiến trúc. Ngày ấy, nếu toà nhà 10 tầng “Hà Nội Vàng” kia mọc lên án ngữ Hồ Gươm thì ngày nay làm sao có chỗ cho dân vào đây được nữa.

Vụ việc này cho thấy, Hà Nội lại “đánh úp” dư luận, đặt mọi việc vào sự đã rồi. Họ lại hành xử “kiểu trung tâm thương mại 19/12”, “kiểu toà nhà EVN ở Hồ Gươm”, không chịu rút kinh nghiệm. Chính quyền đã không làm đúng vai trò của người quản lí, thậm chí có những “ẩn ý” khiến dư luận phải đặt câu hỏi

Advertisements

Hội lễ không phải là nơi “trưởng giả học làm sang”

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bắt đầu từ năm trước, tôi đã bắt đầu đi thăm các chùa, rồi đi lễ, hội. Với mục đích đi thay đổi không khí, thăm quan phong cảnh và mở rộng tầm hiểu biết khi đến các chùa, lễ hội đó. Tôi đã đi Yên Tử nhiều lần, lần nào cũng leo chứ không bao giờ đi cáp, đi Chùa Hương, Yên Phụ, 1 số chùa lẻ không nhớ rõ. Điều tôi nhận thấy là hầu hết những nơi linh thiêng như vậy có rất nhiều điều đáng bức xúc: hàng quán mở ra tùm lum, phá hỏng cả cảnh quan, ô nhiễm khu vực, ban quản lý khu vực thì chỉ tranh thủ kiếm lời… rất đáng buồn và có mong ước nhỏ nhoi là nhà nước, chính quyền hãy quản lý chặt chẽ, tổ chức cho nhân dân khu vực có chỗ buôn bán, kinh doanh (chứ không nên dẹp họ) để trả lại cảnh quan khu vực, làm đẹp hình ảnh Việt Nam trong con mắt của khách du lịch nước ngoài cũng như trong nước.

Dưới đây là 1 bài phỏng vấn, 1 nhận định của 1 giáo sư có tiếng mà tôi thấy sâu sắc và đúng đắn về vấn đề lễ hội:

ý kiến của GS sử học Nguyễn Quang Ngọc về sự biến tướng của hội lễ hiện nay.

Sự xuống cấp trong văn hóa lễ hội không phải chuyện mới xảy ra vài năm gần đây mà là kết quả của một quá trình chuyển biến từ thời kỳ bao cấp bị cấm đoán sang thời kỳ thả lỏng quản lý lễ hội. 

Thời kỳ bao cấp không chỉ khiến kinh tế trì trệ, không có lương thực để nuôi người dân, mà còn khiến cuộc sống tinh thần của xã hội bị đẩy xuống cực thấp. Đền, đình, chùa, miếu… khắp nơi bị phá, ngay cả phong tục thờ cúng tổ tiên, “uống nước nhớ nguồn” cũng cho là mê tín. Sự khốn khó về vật chất đã khổ, nhưng sự bao cấp trong văn hóa còn khiến tâm lý xã hội nặng nề hơn.

Sang thời kỳ đổi mới, đời sống vật chất là tiêu điểm của mọi mối quan tâm, mọi nguồn lực được huy động để phát triển kinh tế. Xã hội khá hơn, nhu cầu tự nhiên của mọi người được coi trọng hơn, tinh thần cũng biến đổi theo. Truyền thống gia đình, dòng họ được khôi phục, đời sống tâm linh được chăm chút. Nhưng sự quan tâm lại trở thành thái quá, vượt ngưỡng, do sự bung ra sau một thời kỳ bị dồn nén, lại thiếu sự định hướng, tổ chức với những định chế cụ thể, nên thành phát triển tràn lan. 

Trước đây, nghĩa địa là không gian khiêm tốn thể hiện sự trang nghiêm, kính trọng những người đã khuất. Giờ thì thành phố của người chết lấn dần làng của người sống, có nơi xây mộ tổ theo mô hình Nhà hát Lớn. Việc phục dựng lại đền, chùa, đình, miếu… là cần thiết, nhưng lại đua nhau mở rộng gấp cả chục lần theo tâm lý rất “bất thường”: “càng to càng đẹp, càng mở rộng càng hay”, bất kể giá trị thật sự của di tích trước đây. Đây là tâm lý lệch lạc xuất phát từ quan niệm thế giới tâm linh quyết định rất nhiều mặt đời sống của người sống.

Lễ hội được phục hồi trong nền cảnh là sự kết hợp của nếp sống “xưa” với điều kiện kinh tế – xã hội – công nghệ hiện nay. Mặt tích cực của nó là khôi phục lại không gian văn hóa tinh thần cho người dân được tạm quên những khó khăn nhọc nhằn của đời thường để thăng hoa.

Nhưng tiếc thay, những mặt tiêu cực lại có phần lấn át. Từ những lễ hội chủ yếu của làng, cùng lắm là của một vùng, giờ được đầu tư thành những lễ hội hoành tráng để phục vụ “du lịch văn hóa”. Khi mục đích tổ chức lễ hội thiên về kinh tế thì chuyện lễ hội bị biến dạng thành méo mó là không tránh khỏi.

Lễ hội gắn với cộng đồng thì rất thiêng liêng, người thuộc cộng đồng đó sẽ bằng mọi giá phải tham gia để cầu một năm thanh thản. Phần lễ trang nghiêm, phần hội là những trò chơi dân gian, vui chơi giải trí gắn với thần hoàng làng đó. Chẳng hạn làng Thị Cấm thờ vị tướng tham gia đánh giặc Tống cùng vua Lê Hoàn, do chuẩn bị trận đánh thì phải lo chuyện cơm nước nuôi quân nên ở làng này bây giờ có tục thổi cơm thi mỗi mùa hội.

Giờ thì quá nhiều hội được quảng bá thành lễ hội quốc gia, mất đi sự thiêng liêng khi không còn gắn với cộng đồng nhỏ ở làng. Nghi thức lễ bị coi nhẹ, phần hội thành vui chơi đàn đúm, cờ bạc… để kiếm tiền. Người đến lễ hội với tâm thái không phải để vui chơi mà chủ yếu để cầu tài lộc. Đến hội đền Bà Chúa Kho để vay tiền cho một năm làm ăn lời lãi; đến lễ khai ấn “chen chúc” cố “giành giật” được vuông ấn để mong năm nay sẽ được thăng quan tiến chức… Mục đích vụ lợi như vậy đã làm mất đi hoàn toàn tinh thần truyền thống của những lễ hội ấy. 

Nói không quá, văn hóa đang bị “lạm dụng”, mọi lễ hội đều được nâng tầm, mở rộng quy mô, số người tham gia lễ hội càng lớn thì càng tự hào. Lễ hội cũng như nhu cầu tín ngưỡng có phần cực đoan, thái quá của người dân đã tạo ra một đội ngũ đông đảo những người ăn theo lễ hội để kiếm tiền. Thật ra đó là sự lệch lạc khi biến lễ hội thành du lịch, nặng về kinh tế, bỏ xa mục đích cộng đồng nguyên gốc.

Lễ hội vốn là câu chuyện trở về với truyền thống, cội nguồn, phong tục tập quán, văn hóa của tổ tiên ta thời xưa. Trong truyền thống đó có cả giá trị và những cái tiêu cực. Lễ hội cần được đổi mới phù hợp với đời sống tinh thần, văn hóa hôm nay, nhưng lợi dụng yêu cầu đổi mới để đưa vào đó những công nghệ kiếm tiền thô lậu, những kịch bản lễ hội na ná nhau nhưng không còn tính chất thô sơ nguyên gốc… là góp phần làm cho lễ hội thêm xuống cấp. Mọi sự đổi mới phải nghiên cứu trên cơ sở sắc thái riêng của từng lễ hội, phù hợp với yêu cầu của cộng đồng.

Có thể nói, đời sống tinh thần của xã hội đã chuyển từ thái cực của sự nghèo nàn, thiếu thốn sang sự cực đoan kiểu “trưởng giả học làm sang”, “phú quý sinh lễ nghĩa”.

Theo tôi, những cơ quan quản lý văn hóa có lỗi đầu tiên khi để tình trạng lễ hội lộn xộn, hỗn loạn diễn biến nhanh theo chiều hướng ngày càng xấu thế này. Phải có những nghiên cứu cụ thể, bài bản từng lễ hội một. Nhà nước đầu tư tiền cho lễ hội là sự đầu tư không đúng chỗ, trừ một vài lễ hội rất đặc biệt như lễ hội Đền Hùng…

Cần có sự chỉ đạo nhất quán, mạch lạc, sự phối hợp hiệu quả từ cơ quan quản lý văn hóa, chính quyền địa phương, đến cộng đồng chủ nhân lễ hội, nhất là với những hội lớn gắn với nhu cầu hành hương của toàn dân (như hội chùa Hương, Yên Tử) để lễ hội thật sự là những chuyến đi “xuân du phương thảo địa”.

Về một phong trào

3 phản hồi

Tôi rất thích đọc bài trên blog Tê lê. Bởi bài bác viết rất đúng với thực tế nhưng cách tiếp cận lại châm biếm, hài hước. Đây là 1 trong những bài viết như vậy. Đọc để thư giãn bạn nhé

Link: http://blog.360.yahoo.com/blog-RFQEScQ9erIt0E9td5gRLBNV5Hw-?cq=1&l=6&u=10&mx=116&lmt=5

Về một phong trào

Tôi có thể đánh cược, với bất cứ thứ gì, rằng cuộc vận động Học tập và là theo tấm gương đạo đức HCM đã thất bại hoàn toàn. Cho dù mấy ông alô cứ một mực khẳng định về sự thành công của cuộc vận động, nhưng đấy là quan điểm của ông ấy, tôi vẫn cứ khăng khăng quan điểm của tôi. Tôi cũng đánh cược tiếp lần 2 rằng người ta đang học tập một ông xa hoắc xa huơ, tuy chưa được phong thánh nhưng danh tính cũng rất nổi tiếng.

Trước tiên, nhìn ông Xăng dầu mà xem. Ông này chắc đọc sách nhiều, mà trong đó thế nào cũng có sách về bí kíp tình dục. Phàm ở trên đời, làm gì có chiến lược cũng tốt hơn, kể cả lĩnh vực phòng the. Thế nên, chương Một của cẩm nang hẳn là sẽ có câu đại ý rằng: “Lên thẳng tưng, xuống lừng khừng”. Đây là điều kiện “cần” cho các ông trong cuộc mây gió. Có thực hiện được chương Một mới có cơ hội áp dụng chương Hai, chương Ba… Ông đọc và ông tâm đắc quá. Ông đem áp dụng với đời. Nhưng vốn tính tình hài hước, ông áp dụng nguyên tắc tình dục vào giá xăng dầu. Khi giá dầu thế giới tăng lên, ông tăng những 4.500đ/l, khi xuống giá thế giới còn một nửa ông khoan thai giảm từng 500đ/l. Hẳn là ông lo dân bị sốc nếu xuống nhanh quá, do vậy mà đánh mất khoái cảm chăng. Rồi biết đâu, lâu rồi sinh bệnh, lại lãnh cảm với sự lên xuống thì chí nguy. Ôi, có phải ai cũng được như ông.

Nếu ông Xăng dầu hài hước tình dục thì ông Nhà đèn lại hài hước kiểu hiện thực phê phán. Ông này, nguyên được dân giao cho cái nhiệm vụ vô cùng khẩn thiết là thắp sáng mọi nhà. Nhưng do đọc và mê mẩn quá tác phẩm Số đỏ nên ông cứ nhấm nhẳng thế này:

“Cố gắng lo việc nhà đèn cho tốt nhé ?!”

“Em chã, em thấy làm Dây thép ngon hơn”

“Hừ, cố gắng mà xây nhà máy điện nhanh lên, lúc nào cũng thiếu kia kìa”

“Em chã, em trả 13 dự án đây này, tại em thiếu…vốn”

“Chết, sao đang buôn cả ngành bên Dây thép kia mà, lại còn định xây trụ sở mới to vật vã bên hồ Lục Thuỷ. Thôi, đành vậy, nhưng cố giữ bình ổn giá cả nhé, mình em một chợ đấy”

“Em chã, cho em tăng giá mười mấy phần trăm đi. À, hay thả nổi cho em như thằng Xăng dầu cũng được, đ..i…i mợ”

“Hư quá. Không cho cái gì hết nữa đâu nhá. Chỉ vòi”

“Em chã, cho em 1.002 tỷ thưởng đi”

“Thưởng thưởng cái gì, thưởng công ngồi án binh bất động à ?”

“Em chã, tại em cắt điện tắt đèn có khoa học nên mới lãi được thế chứ. Mua điện về đủ dùng có mà lỗ sặc lâu rồi. Em chã”

Chuyện còn dài. Nhưng chỉ một đoạn, ai cũng tấm tắc rằng ông Nhà đèn cũng có tính khôi hài.

Chả thua chị kém em, ông Y tế cũng đang trổ tài nghệ hài hước bậc thầy của mình. Nhân vụ xử hai nhà báo về tội lợi dụng cái gì gì đó để xâm phạm cái gì gì đó. Dân gian cứ nôm na hiểu là xử tội “vu khống”. Với tinh thần trách nhiệm với dân, luôn muốn làm dân vui, ông Y tế mạnh dạn giơ tay ý kiến rằng: Không cấp bằng lái xe máy cho những đứa “vu khống”. Để ý kiến mang tính chất chuyên môn y tế một chút, ông diễn đạt lại là: Không cấp bằng cho những thằng “không vú”. Mà văn bản không thể nói chỉ định tính được. Nhỡ đâu, có đứa lý sự, đưa cái ngực có hai con ruồi đậu bên bờ mương cạn bảo rằng “chả vú đây là rề”. Thế nên phải có con số. 72cm, tổng 9 nút, số đẹp, quyết thế. Để đỡ nhàm chán bổ xung thêm

– Phải cao trên 1.4m

– Eo mấy cũng phải trên 40kg, cả lúc no cũng như lúc đói, không tính cả bì (quần dài, quần lót…ví dụ thế)

Sau này, để vui hơn có thể bổ xung vài chục điều, ví dụ:

– Mông to cỡ X trở lên đi Dream, Viva; Cỡ Y trở lên đi Dylan, SH, cỡ Z cho phép lái xe tăng. Tránh nhầm cỡ mông, mất cân đối xe, ảnh hưởng an toàn giao thông

– Cấm người ngực to vài trăm cm đi xe máy, khả năng bị tùng bê cao và chiếm diện tích mặt đường.

– Quy định số đo là cho ngực bánh dày, có thể quy đổi từ ngực quả lê, ngực quả mướp sang ngực bánh dày theo bảng quy đổi ban hành bởi Tệ y bố, à quên, bộ Y tế.

Vân vân và vân vân…

Còn nhiều, nhiều gương sáng nữa mà tôi không thể kể hết. Chỉ dẫn chứng ba ví dụ thôi để chứng minh một chân lý rằng: Người đang được tôn vinh và học tập theo là một người…Thổ Nhĩ Kỳ. Tên ông là Azít Nêxin. Chỉ có những môn đệ của ông mới có thể hài hước được đến thế. Buồn thay cho sự thất bại một phong trào….

[Luận điểm sưu tầm]Chết vì một nghìn khoản trợ cấp

Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đây là 1 bài viết sưu tầm, nó chỉ đơn giản là 1 suy luận về 1 khía cạnh của kinh tế. Đăng bài viết này lên blog cũng bắt đầu chứng minh 1 sự thay đổi của tôi, đó là cần quan tâm và hiểu biết hơn nữa về những vấn đề mang tính to lớn và bao quát hơn, cần phải mở rộng kiến thức của mình ra hơn. Một sự trưởng thành mới…

Chết vì một nghìn khoản trợ cấp

Gần 40 năm qua, ngân sách liên bang phải dốc khoản tiền khổng lồ ra trợ cấp cho những nông dân sản xuất vải nỉ Angora ở Mỹ. Với hàng nghìn lĩnh vực đang chờ tiền trợ cấp, người ta bắt đầu đặt lên bàn cân để so sánh lợi ích của một nhóm nhỏ nông dân và khoản chi phí mà những người khác còn lại phải gánh.

Vài năm trước, tôi đi nghỉ cùng một nhóm bạn. Là viện sĩ hàn lâm duy nhất trong nhóm, tôi trở thành đối tượng của sự tò mò thoáng qua. Khi tôi kể tôi đang nghiên cứu chính sách công, một trong những người đồng hành của tôi hỏi đầy hoài nghi: “Nếu người ta nghiên cứu nhiều về chính sách công, thì tại sao mọi thứ vẫn lộn xộn?” Câu hỏi đó thật quá ngớ ngẩn, nó giống như câu hỏi: “Nếu chúng ta nghiên cứu nhiều về y học, tại sao người ta vẫn chết?”

Nếu suy nghĩ kỹ, người ta hoàn toàn có thể đưa ra lời đối đáp thông minh trong những trường hợp như trên (Lúc đó, tôi chỉ nói lầm bầm điều gì đó như “Ừm, vấn đề này quả là phức tạp”). Lẽ ra, tôi nên nói, trong lĩnh vực chính sách công, cũng như trong y học, chúng ta đã đạt được một số thành tựu khá lớn: Ngày càng có nhiều người Mỹ khỏe mạnh hơn, giàu có hơn, được giáo dục tốt hơn và ít bị tác động hơn trước những đợt suy thoái kinh tế hay phá sản so với bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử.

Tuy nhiên, nhiều năm sau, tôi vẫn băn khoăn với câu hỏi này, chủ yếu bởi vì nó gợi ra một điểm rất quan trọng: Ngay cả khi các nhà kinh tế đạt được sự nhất trí về những chính sách có thể giúp chúng ta giàu có hơn, những chính sách này vẫn bị phe chính trị đối lập chặn đứng. Thương mại quốc tế là một ví dụ hoàn hảo. Tôi chưa từng biết bất kỳ nhà kinh tế học chính thống nào tin tưởng có sự khác biệt về tầm quan trọng của thương mại quốc tế đối với hạnh phúc của người dân ở những nước giàu và những nước nghèo. Chỉ có duy nhất một vấn đề nho nhỏ: những cuộc biểu tình trên đường phố, thậm chí trước khi phong trào chống toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ ở những nơi như Seattle và Genoa, các hiệp định mở rộng thương mại, như Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ, đã gây ra các cuộc xung đột chính trị mạnh mẽ.

Trong khi đó, các quy định về ngân sách của chính phủ mới được quốc hội thông qua lại lãng phí tiền bạc vào những dự án nhỏ không thể làm gia tăng lợi ích quốc gia. Trong suốt gần 40 năm, ngân sách liên bang liên tục trợ cấp cho những nông dân sản xuất vải nỉ Angora ở Mỹ. Chính sách trợ cấp sản xuất vải nỉ Angora bắt đầu được thực hiện từ năm 1955 theo chỉ thị của quân đội nhằm đảm bảo nguồn cung cấp vải sợi may quân phục khi chiến tranh nổ ra. Tôi không phản đối chính sách này. Nhưng từ năm 1960, quân đội đã chuyển sang dùng sợi tổng hợp để may quân phục. Tuy nhiên, chính phủ vẫn tiếp tục chi những khoản tiền trợ cấp khổng lồ cho nông dân sản xuất vải nỉ Angora trong ba mươi lăm năm tiếp theo. Tại sao lại như vậy?

Lý do không phải vì những nông dân sản xuất vải nỉ Angora có sức mạnh khủng khiếp, họ được hậu thuẫn lớn hay thuộc thành phần chính trị phức tạp. Họ không phải là một trong ba nhóm người này. Thực tế, số lượng rất ít các nông dân sản xuất vải nỉ Angora chính là một lợi thế. Những nông dân này có thể nhận được những khoản thanh toán lớn từ chính phủ mà không phải nộp thuế. Giả sử có một nghìn nông dân sản xuất vải nỉ Angora, mỗi người nhận được khoản tiền trợ cấp trị giá 100 nghìn đôla từ chính phủ liên bang mỗi năm, chỉ vì họ là nông dân sản xuất vải nỉ Angora.

Những người nông dân nhận được tiền trợ cấp rất quan tâm đến điều này – có lẽ, họ còn quan tâm đến nó nhiều hơn bất kỳ một quan chức nào của chính phủ. Trong khi đó, tất cả chúng ta, những người phải trả thêm từng đồng xu nhỏ vào đủ các loại thuế để duy trì một nguồn cung vải nỉ không cần thiết, lại chẳng hề quan tâm đến nó. Bất kỳ một chính trị gia nào cũng có thể nhận thấy ngay rằng việc tán thành chính sách trợ cấp sẽ giúp họ giành được sự ủng hộ mạnh mẽ từ những nông dân sản xuất vải nỉ Angora trong khi vẫn không làm ảnh hưởng tới những cử tri khác. Đó là một thực tế chính trị không cần bàn cãi.

Vấn đề là những nông dân sản xuất vải nỉ Angora không phải là nhóm duy nhất xếp hàng để nhận trợ cấp, hay miễn thuế, hay bảo hộ thương mại, hay bất kỳ chính sách nào làm đầy túi tiền của họ từ chính quyền liên bang. Chính sách trợ cấp cho những nông dân sản xuất vải nỉ Angora giờ đây, không còn nữa. Nó đã trở thành một công cụ quảng cáo cho các hoạt động chính trị liên quan đến ngân sách chính phủ và sự vô lý hoàn toàn của nó bị lên án mạnh mẽ.

Tuy nhiên, quá trình phát sinh những khoản tiền mặt trợ cấp vô lý như trên vẫn còn tồn tại. Hãy xem tiếp ví dụ về ethanol, một loại nhiên liệu thay thế cho xăng dầu, có nguồn gốc từ ngũ cốc và vẫn được đánh giá là thân thiện hơn với môi trường. Mỗi gallon xăng dầu pha ethanol được giảm 5,4 xu thuế so với dầu tinh, vì nó cháy sạch hơn và nhờ có nó, chúng ta không cần phụ thuộc vào nguồn cung cấp nhiên liệu từ các nước khác.

Dĩ nhiên, cả các nhà khoa học lẫn các nhà môi trường đều không tin, ethanol thật sự tuyệt vời đến vậy. Theo nghiên cứu năm 1997 của Tổng cục Kế toán, một đơn vị không thuộc đảng phái nào của Quốc hội, ethanol không giảm bớt sự phụ thuộc của chúng ta vào dầu nhập khẩu. Tuy nhiên, tiền trợ cấp cho ethanol vẫn ngốn hết 7,1 tỷ đôla ngân sách chính phủ. Tồi tệ hơn, ethanol còn khiến tình trạng ô nhiễm không khí trở nên trầm trọng hơn. Nó bốc hơi nhanh hơn dầu tinh, và ở nhiệt độ cao, nó sẽ khiến các vấn đề liên quan đến tầng ozone trở nên trầm trọng hơn. Một nghiên cứu được Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia tiến hành năm 1999 cũng đưa ra kết luận tương tự.

Nhưng tuân theo khoa học là mất điểm. Như tờ New York Times đã viết về cuộc tranh cử tổng thống năm 2000: “Dù ethanol có là nhiên liệu lý tưởng cho xe hơi hay không, nó chắc chắn đã đóng góp đáng kể vào các chiến dịch tranh cử ở Iowa”. Trợ cấp thuế cho ethanol làm tăng cầu ngũ cốc, nhờ đó giúp người nông dân có cuộc sống khấm khá hơn.

Theo tính toán của Hiệp hội Những người trồng Ngũ cốc Quốc gia, giá mỗi giạ ngũ cốc bán ra tăng 30 xu nhờ chương trình ethanol. Bill Bradley hiểu rõ điều này. Trong suốt ba nhiệm kỳ là thượng nghị sĩ bang New Jersey (một bang không trồng nhiều ngũ cốc), ông phản đối chính sách hỗ trợ thuế cho ethanol. Một trong những thành tích quan trọng nhất của ông trong thời gian này là làm trong sạch và hạn chế những sai lầm trong chính sách trợ cấp.

Khi Bill Bradley đến Iowa với tư cách là ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ, ông “đã nói chuyện với một vài nông dân” và nhận ra, ông cần ủng hộ chương trình dỡ bỏ thuế đánh vào ethanol. Ông nhận ra ethanol có ý nghĩa quyết định đối với các cử tri Iowa, và Iowa có ý nghĩa quyết định trong cuộc tranh cử tổng thống. Tất cả những ứng cử viên tổng thống nhanh nhạy trước thời cuộc đều ủng hộ trợ cấp ethanol trừ John McCain, người không vận động tranh cử ở Iowa vì biết lập trường của mình đối với ethanol sẽ loại trừ bất kỳ cơ hội thành công nào ở đó.

Mặc dù “cách nói thẳng thắn” của Thượng nghị sĩ McCain thật sự rất đáng ngưỡng mộ, nhưng chúng ta hãy nhớ, ông đã thất bại trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ. Ngay trước khi diễn ra những cuộc họp kín ở Iowa năm 2000, một nông dân trồng ngũ cốc tên là Marvin Flier ở bang Iowa đã phát biểu trên tờ New York Times: “Đôi khi, tôi nghĩ rằng họ (những ứng cử viên) xuất hiện chỉ là là để thỏa mãn chúng tôi. Dĩ nhiên, điều đó không tệ chút nào.”

Ethanol không phải là nguyên liệu có lợi ích đặc biệt to lớn khiến tất cả chúng ta phải hoàn toàn đồng tình. Số lượng nông dân chỉ chiếm 2 hay 3% tổng dân số, thậm chí số nông dân thật sự trồng ngũ cốc còn ít hơn nhiều. Nếu việc loại bỏ đặc ân ra khỏi chính trị chỉ đơn giản là vấn đề mang tính quyền lực, thì chúng ta, những người không thể phân biệt một con bê cái và một con bê đực, sẽ hoàn toàn bỏ qua những người nông dân. Thực tế, những cử tri cánh hữu ở Mỹ có thể tập hợp lại và đề nghị dỡ bỏ thuế ethanol, và điều này sẽ khiến các cử tri cánh tả phải chịu thiệt. Và chúng ta cũng có thể có giải pháp cho vấn đề với những nông dân sản xuất vải nỉ Angora. Nhưng mọi chuyện lại không xảy ra như vậy.

Các nhà kinh tế học đưa ra thuyết hành vi chính trị rất phù hợp với thực tế trên. Khi chính kiến của tập thể được đề cao, ý kiến cá nhân sẽ trở nên nhỏ bé. Đầu thập niên 1980, Gary Becker đã viết một bài báo có ảnh hưởng sâu sắc tóm lược đầy đủ và toàn diện quan niệm phổ biến về kinh tế học điều tiết. Dựa trên những kết quả trong luận án tiến sĩ trước đó của Milton Friedman, Becker đưa ra giả thuyết cho rằng, trong điều kiện giống nhau, những tổ chức có quy mô nhỏ và được tổ chức tốt sẽ là những tổ chức thành công nhất trong guồng máy chính trị. Tại sao vậy? Bởi vì chi phí cho tất cả những gì có lợi đã được chia đều cho một bộ phận lớn và thiếu tổ chức trong dân số.

Hãy tiếp tục với ví dụ về ethanol. Khoản trợ cấp thuế 7 tỷ đôla chỉ mang lại lợi ích cho một nhóm nhỏ nông dân. Trong khi đó, chi phí lại được chia đều cho 98% còn lại trong chúng ta, đưa ethanol xuống vị trí rất thấp trong danh sách những mối bận tâm hàng ngày của chúng ta. Điều ngược lại sẽ đúng với kế hoạch yêu cầu cử tri cánh tả trả tiền trợ cấp cho cử tri cánh hữu của tôi. Cứ một cử tri cánh tả lại có khoảng chín cử tri cánh hữu, vì vậy, nếu mỗi cử tri cánh hữu được nhận một khoản phúc lợi trị giá 100 đôla từ chính phủ, thì mỗi cử tri cánh tả sẽ phải bỏ ra 900 đôla. Những cử tri cánh tả sẽ phát điên vì hóa đơn thuế 900 đôla, và lúc này, tiền thuế sẽ trở thành mối quan tâm chính của họ, trong khi những cử tri cánh hữu lại không thật sự vui mừng cuồng nhiệt với khoản trợ cấp 100 đôla của họ. Một chính trị gia khôn ngoan sẽ củng cố sự nghiệp của mình bằng cách bỏ phiếu cho những người cánh tả.

Chết vì một nghìn khoản trợ cấp.

Chi phí xây dựng ga-ra đỗ xe ngầm ở Bảo Tàng Khoa học và Công nghiệp không đáng kể so với nền kinh tế 10 nghìn tỷ đôla của chúng ta. Trợ cấp ethanol, bảo hộ thương mại cho những nhà sản xuất đường, miễn thuế cho các công ty dược phẩm có cơ sở hoạt động ở Puerto Rico và trợ giá cho các nông dân sản xuất bơ sữa cũng vậy. Nhưng nếu tính tổng, tất cả những khoản này và hàng nghìn khoản tương tự khác sẽ trở thành một khoản tiền khổng lồ. Những hoạt động không hiệu quả nho nhỏ bắt đầu phá vỡ chức năng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường: tiếp nhận đầu vào và sản xuất hàng hóa và dịch vụ sao cho có hiệu quả nhất. Nếu chính phủ phải trợ giá sữa, sẽ có nhiều nông dân sản xuất bơ sữa hơn mức cần thiết. Định nghĩa hoàn hảo nhất mà tôi từng nghe về chính sách miễn thuế là hình thức đầu tư hay hành vi sẽ trở nên vô giá trị nếu thiếu những cân nhắc về thuế. Và đó chính là vấn đề: Chính phủ không nên tạo ra động cơ khuyến khích người dân làm những việc sẽ trở nên vô giá trị.

Câu hỏi đặt ra là tại sao một chính phủ tốt không những rất quan trọng, mà cực kỳ thiết yếu? Khi Quốc hội chuyển sự chú ý của mình sang một vấn đề nào đó, quả thật sẽ có rất nhiều đồ trang trí xuất hiện trên cây thông Noel. Nhà kinh tế học quá cố của Đại học Chicago, George Stigler, người giành giải Nobel Kinh tế năm 1982, đã đề xuất và bảo vệ một quan điểm phản trực giác: các công ty và các ngành công nghiệp thường được thụ hưởng lợi từ luật pháp. Họ có thể sử dụng chính trị để tạo ra những quy định vừa giúp họ lại vừa gây khó khăn cho những đối thủ cạnh tranh.

Đầu thế kỷ XV, Trung Quốc vượt lên trên các nước châu Âu trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học, canh tác, kỹ thuật, và thậm chí cả thuốc thú y. Người Trung Quốc đã đúc sắt từ năm 200 trước Công Nguyên, trước người châu Âu khoảng 1.500 năm. Tuy nhiên, khi cuộc Cách mạng Công nghiệp diễn ra ở châu Âu thì nền văn minh Trung Hoa lại suy tàn. Tại sao vậy? Theo nhận định của các chuyên gia lịch sử, lý do là vì các vị vua Trung Quốc coi trọng sự ổn định hơn sự tiến bộ. Kết quả là, họ ngăn cản mọi thay đổi xã hội chệch hướng làm bùng phát cuộc Cách mạng Công nghiệp. Ví dụ như, vào thế kỷ XV, những vị hoàng đế Trung Quốc ra lệnh cấm tất cả các hoạt động thông thương buôn bán, thắt chặt thương mại…

Chúng ta đã thiết lập ra một số thể chế, mà trong đó những lợi ích lớn áp đảo những lợi ích nhỏ hơn. Ví dụ, tổng thống sẽ sử dụng “quyền phát triển thương mại” trong tiến trình đàm phán thương mại quốc tế. Quốc hội vẫn nắm quyền thông qua những thỏa thuận trong hiệp ước, nhưng chỉ với một lá phiếu thuận hoặc chống. Tiến trình thông thường trong đó các nhà lập pháp có thể bổ sung hay sửa đổi đều bị bỏ qua. Tuy nhiên, các nhà lập pháp bắt buộc phải tuân theo quy định không được phép đạt được hiệp định bằng cách miễn thuế cho nhiều ngành khác nhau. Một hiệp định đem đến sự bảo hộ cho một số lợi ích đặc biệt không thể gọi là hiệp định thương mại. Quyền phát triển thương mại đang từ “fast”, vì thế, cũng buộc các chính trị gia tham gia đàm phán thương mại tự do phải dò đi từng bước.

WTO thực chất chỉ là một phiên bản quốc tế của cái gọi là fast-track authority. Đàm phán để giảm bớt rào cản thương mại giữa các quốc gia – mỗi quốc gia lại bao gồm vô số nhóm lợi ích – là một nhiệm vụ vĩ đại. WTO giúp quản lý tiến trình về mặt chính trị khi đưa ra những yêu cầu gia nhập đối với các nước: mở cửa các thị trường, xóa bỏ các hình thức trợ cấp, loại bỏ thuế quan… Đó là cái giá để trở thành thành viên của WTO. Đổi lại, các nước được công nhận là thành viên được tự do buôn bán trên thị trường của tất cả các thành viên hiện tại – một phần thưởng đáng kể để khích lệ các chính trị gia nói không với “những nông dân vải nỉ Angora” trên thế giới.

(Trích cuốn “Đôla hay lá nho” do Công ty Alpha Books phát hành)